Hiển thị các bài đăng có nhãn ngành bán lẻ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ngành bán lẻ. Hiển thị tất cả bài đăng

Chiến lược khách hàng trong ngành bán lẻ

Trong lĩnh vực bán lẻ, các doanh nghiệp thường xuyên phải đối mặt với việc tìm khách hàng mới, những nỗ lực quảng cáo, tiếp thị và định giá đều nhằm múc đích thu hút các khách hàng. Những nổ lực này là cần thiết nhưng đồng thời cũng có thể khiến doanh nghiệp bị hao tổn công sức và tiền bạc khi không xác định được đúng đối tượng khách hàng để có những kế hoạch tiếp thị thích hợp.


Các doanh nghiệp bán lẻ nên thực hiện nguyên lý 20/80 và chỉ nên tập trung nỗ lực vào 20% khách hàng được xác định là tốt nhất của mình. Vì trên thực tế, một doanh nghiệp thường có năm nhóm khách hàng với mức độ nhu cầu, cách hành xử và quá trình ra quyết định mua hàng khác nhau.

Đây là những khách hàng thường xuyên ghé thăm và sử dụng dịch vụ của bạn. Mặc dù chỉ chiếm khoảng 20% trong tổng số khách hàng của các doanh nghiệp bán lẻ nhưng doanh thu từ những khách hàng này lại chiếm đến 50% trong tổng số doanh thu của một doanh nghiệp bán lẻ. Điều này có nghĩa răng, doanh nghiệp của bạn nên thường xuyên giữ liên lạc với những khách hàng trung thành, thực hiện các chương trình marketing nhằm tri ân họ. Nhóm khách hàng này nên là đối tượng ảnh hưởng đến các quyết định về thiết kế sản phẩm và phong cách bài trí của doanh nghiệp bạn.
Lắng nghe và làm theo những ý kiến đóng góp của khách hàng trung thành là một cách đánh giá cao và cảm ơn họ hữu hiệu nhất. Làm hài lòng nhóm khách hàng trung thành cũng là một cách tiếp thị bán hàng hiệu quả, bởi rất có thể họ sẽ mang lại cho doanh nghiệp của bạn nhiều khách hàng mới bằng cách giới thiệu doanh nghiệp với nhiều khách hàng mới.

Chiến lược khách hàng trong ngành bán lẻ
Xác định được nhóm đối tượng khách hàng là một trong những cách hỗ trợ bán hàng hiệu quả

Khách hàng chỉ mua khi có giám giá, khuyến mãi
Lượng khách hàng thuộc nhóm này mua hàng khá thường xuyên nhưng chỉ mua khi có chương trình khuyến mãi, giảm giá sản phẩm. Đây sẽ là những đối tượng khách hàng giúp doanh nghiệp giải phóng hàng tồn kho nhanh nhất và vì vậy là một nguồn bổ sung chính vào dòng tiền mặt của doanh nghiệp khi cần. Vậy nên, doanh nghiệp bàn lẻ nên thông tin bằng cách gửi SMS hoặc email thông báo đến nhóm khách hàng này khi có chương trình khuyến mãi.

Khách mua hàng theo cảm hứng
Nhóm khách hàng này là những người không có nhu cầu cụ thể. Họ có thể dạo chơi, ghé vào cửa hàng của bạn và chọn mua những món đồ khiến họ hứng thú mà không có dự tính từ trước. Và tất nhiên doanh nghiệp nào cũng muốn phục vụ những khách hàng mua theo cảm hứng như thế này.
Giúp đỡ họ phát hiện ra nhu cầu của mình và lấy ý kiến phản hồi của họ đối với doanh nghiệp của bạn là công việc cần thiết. Doanh nghiệp nên bài trí hàng hóa trong cửa hàng sao cho thu hút đối tượng khách hàng này vì họ sẽ là nhóm khách hàng đưa ra nhiều quan điểm và kiến thức quan trọng đại diện cho số đông người tiêu dùng.
Chiến lược khách hàng trong ngành bán lẻ
Khách hàng trung thành có thể chỉ chiếm 20% nhưng doanh thu từ họ lại chiếm đến 50% trong tổng số doanh thu củadoanh nghiệp

Khách hàng mua khi có nhu cầu
Nhóm khách hàng này có ý định rõ ràng về việc mua một sản phẩm cụ thể. Khi bước vào cửa hàng, họ sẽ kiểm tra ngay liệu nhu cầu của họ có được đáp ứng không, nếu không, họ sẽ rời khỏi cửa hàng ngay. Có nhiều lý do để họ mua hàng nhưng mặt hàng mà họ lựa chọn mua gần như đã được xác định cụ thể.
Làm thỏa mãn nhóm khách hàng này không phải là một điều dễ dàng nhưng nếu làm được, doanh nghiệp sẽ có thể biến họ thành những khách hàng trung thành. Nên nhớ rằng những khách hàng dựa trên nhu cầu cụ thể rất có khả năng chuyển sang một đối thủ cạnh tranh để mua hàng nếu nhu cầu của họ không được thỏa mãn ngay – do đó, nhân viên bán hàng, nhất là những người giữ chức vụ cao, cần phải tạo ra sự tương tác cá nhân tích cực đối với họ. Dịch vụ tốt sẽ là yếu tố kéo họ đến cửa hàng.

Khách hàng đang “đi dạo”
Nhóm khách hàng này bước vào cửa hàng của bạn không với mục đích để mua hàng – có thể họ chỉ có ý định tham khảo sản phẩm hoặc tìm kiếm những xu thế mới. Đối với nhóm khách hàng này, địa điểm của cửa hàng là yếu tố chính thu hút họ. Dù có thể không tạo ra doanh thu cho cửa hàng nhưng rất có thể, họ sẽ trở thành những “khách hàng có nhu cầu” khi có nhu cầu thực sự hoặc sẽ là một công cụ marketing truyền miệng hữu hiệu đến cộng đồng của họ – thế nên, cần tạo thiện cảm với nhóm khách hàng này bằng chất lượng sản phẩm, bằng thái độ phục vụ,…
Việc phân loại khách hàng thành từng nhóm cụ thể sẽ giúp doanh nghiệp có những định hướng rõ ràng trong việc tiếp cận và chăm sóc khách hàng. Doanh nghiệp nên tập trung nỗ lực vào 20% khách hàng thật sự tốt nhất của mình để không bỏ lỡ những giao dịch buôn bán với nhóm khách hàng này, đồng thời không quên lôi kéo nhóm khách hàng mới được xác định là tiềm năng tránh việc khách hàng lựa chọn sử dụng sản phẩm, dịch vụ của đối thủ .

Sưu tầm

Xây dựng thương hiệu bán lẻ

Thương hiệu cho sản phẩm và thương hiệu bán lẻ có nhiều điểm khác biệt cơ bản. Do đó, cần có những tiêu chuẩn và chiến lược riêng cho hoạt động xây dựng thương hiệu bán lẻ. Xây dựng thương hiệu bán lẻ là vấn đề đã được đề cập rất nhiều trong thời gian qua, từ khi ngành bán lẻ Việt Nam đón nhận thêm các thương hiệu bán lẻ nước ngoài.

 Thương hiệu bán lẻ


Tuy nhiên, tại Việt Nam, dường như các nhà bán lẻ vẫn sử dụng công cụ xây dựng thương hiệu dành cho sản phẩm (Product branding) để áp dụng vào hoạt động xây dựng thương hiệu bán lẻ (Retail branding).

Cửa hàng, mặt trận chính của thương hiệu bán lẻ

Điểm khác biệt cơ bản giữa xây dựng thương hiệu của sản phẩm và thương hiệu bán lẻ chính là sự tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng. Đối với ngành bán lẻ, người tiêu dùng trực tiếp tiếp xúc với thương hiệu hay sản phẩm, còn ngành sản xuất thì không. Có thể lấy thanh sôcôla Mars làm ví dụ. Sản phẩm này được chế biến trong nhà máy theo công thức định sẵn, không ai nhìn thấy. Nhân viên làm việc tại nhà máy cũng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng. Do đó, nhà sản xuất có thể xây dựng một hình ảnh, tính cách thương hiệu và thông qua các kênh truyền thông tạo thành nhận thức thương hiệu trong người tiêu dùng.

Trong khi đó, do tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng, nên một thương hiệu bán lẻ như Wal-Mart phải thể hiện hình ảnh và tính cách của thương hiệu trên mọi hoạt động, hằng ngày, hằng giờ trong thời gian mở cửa.

Trong một cửa hàng bán lẻ, văn hóa và giá trị công ty hoàn toàn được phơi bày trước mắt người tiêu dùng. Có thể nói, cửa hàng là chiếc hộp đựng toàn bộ công thức kinh doanh của công ty bán lẻ. Trong đó, tất cả các yếu tố, bao gồm cả tiếp thị, đều được thể hiện. Các yếu tố này kết hợp với nhau, cấu thành hình ảnh thương hiệu. Sơ đồ bên cạnh sẽ chỉ ra các yếu tố quan trọng ảnh hưởng và cấu thành hình ảnh thương hiệu trong ngành bán lẻ.

Sản xuất kiêm bán lẻ: có thể là xu hướng?

Thương hiệu bán lẻ có lợi thế lớn là bao giờ cũng gần gũi hơn với người tiêu dùng. Cửa hàng bán lẻ là nơi lý tưởng để truyền thông trực tiếp tới người tiêu dùng tại thời điểm ra quyết định mua hàng. Đây là hình thức tiếp thị từng cá nhân (one-to-one marketing). Nhà bán lẻ chính là người giúp đỡ khách hàng chọn lựa bằng cách tuyển chọn trước các sản phẩm và trình bày chúng theo cách của mình. Khi người tiêu dùng đã nhận biết và tin tưởng vào thương hiệu bán lẻ, đó là lúc nền tảng của lòng trung thành với thương hiệu được thành lập.
Với những lợi thế nói trên, một số nhà sản xuất đã quyết định đầu tư luôn vào ngành bán lẻ, vì đây là nền tảng xúc tiến thương hiệu hiệu quả đến với người tiêu dùng. Chẳng hạn, tại Hà Lan, thương hiệu dầu ô liu Bertolli đã đầu tư mở một chuỗi nhà hàng với các món ăn sử dụng dầu ô liu Bertolli và bán lẻ dầu ô liu tại cửa hàng. Mô hình này rất thành công và đã được nhân rộng khắp nơi trong nước. Tại việt Nam, có thể trong tương lai gần, chúng ta cũng sẽ bắt đầu nhìn thấy mô hình này.

Các yếu tố cấu thành hình ảnh thương hiệu bán lẻ

* Giá:

- Xây dựng cấu trúc giá sàn, giá trần
- Cấu trúc giá cho từng nhóm mặt hàng
- Chương trình xúc tiến bằng giá
- Các phương pháp xây dựng giá ( giá sỉ, giảm giá…) Thể hiện mức giá theo định vị thương hiệu

* Địa điểm:

- Chọn lựa: trung tâm thành phố, ngoại ô, trung tâm mua sắm…Nhiều mô hình thích hợp cho các vị trí khác nhau
- Độ bao phủ trên thị trường: sự xuất hiện của cửa hàng tại những thị trường trọng điểm và tiềm năng
- Nhóm cửa hàng: xây dựng các cửa hàng tạo thành các tuyến đường thuận lợi cho vận chuyển và phân phối
- Tính quốc tế: có mặt tại nhiều nước khác nhau

* Dịch vụ:

- Trước khi mua hàng:
Truyền thông các dịch vụ cộng thêm, chẳng hạn như giữ xe miễn phí

- Sau khi mua hàng:
+ Dịch vụ bảo hành
+ Dịch vụ sửa chữa theo nhu cầu
+ Đổi hàng, trả hàng
+ Lay-by: đặt cọc gửi hàng và mua sau

- Phân loại và sắp xếp:
+ Hàng cơ bản, hàng theo bộ sưu tập, hàng có giá trị cộng thêm
+ Thương hiệu duy nhất
+ Chủng loại sản phẩm
+ Sản phẩm mới đáp ứng thị hiếu thị trường
+ Bao bì cộng thêm, bao bì khuyến mãi

- Truyền thông đại chúng:
+ Lựa chọn kênh truyền thông
+ Mục tiêu xúc tiến
+ Tài trợ, khuyến mãi, chương trình truyền thông
+ Chủ đề
+ Thời gian
+ Ngân sách

- Trải nghiệm:
+ Mang đến sự ngạc nhiên cho người tiêu dùng bằng các yếu tố bất ngờ
+ Kết hợp yếu tố cố định và yếu tố năng động
+ Xây dựng giá trị chuyển đổi
+ Xây dựng sự hài lòng
+ Xây dựng hành trình mua sắm cho người tiêu dùng

+ Tuyển dụng, chọn lựa, huấn luyện kiến thức chuyên môn
+ Hành vi
+ Đồng phục
+ Cách ứng xử

- Truyền thông tại cửa hàng:
+ Hình thức và cách diễn đạt phù hợp với thương hiệu
+ Nhận diện thương hiệu
+ Logo
+ Tập trung vào thương hiệu
+ Tạp trung vào sản phẩm hay nhóm sản phẩm
+ Bảng hiệu và bảng chỉ dẫn, bảng xúc tiến
+ Chủ đề, chương trình truyền thông
+ Trưng bày hàng hóa:
+ Vật phẩm quảng cáo
+ Trưng bày sản phẩm đẹp, lôi cuốn
+ Cửa sổ trưng bày hấp dẫn, lôi cuốn

- Cửa hàng:
+ Thiết kế kiến trúc và trang trí nội thất thương hiệu
+ Cấu trúc mặt bằng và tính năng hoạt động của cửa hàng
+ Trang trí mặt tiền cửa hàng bắt mắt
+ Ánh sáng, âm thanh, mùi thơm trong cửa hàng

Khác với xây dựng thương hiệu sản phẩm, xây dựng thương hiệu trong ngành bán lẻ đòi hỏi tính quản lý chi tiết và không tách rời khỏi hoạt động của cửa hàng. Việc thực hiện quy trình không đồng bộ tại các cửa hàng khác nhau trong chuỗi cửa hàng cũng làm ảnh hưởng không tốt đến thương hiệu.

Theo baohothuonghieu.com